Người làm báo Tiền Giang

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhà báo – Nhà văn liệt sĩ Nguyễn Văn Nguyễn

Đăng lúc: Thứ ba - 01/11/2011 14:48
Nguyễn Văn Nguyễn, bút danh Ngũ Yến sinh ngày 15-2-1910 tại xã Điều Hòa, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho trong một gia đình nhà giáo. Nguyễn Văn Nguyễn vừa là một chiến sĩ cộng sản chân chính thuộc lớp đảng viên 30 vừa là nhà báo, nhà văn, nhà phê bình văn học, nhà chính trị, một tiểu thuyết gia mà tên tuổi đã có từ vài thập kỷ trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Nhà báo Nguyễn Văn Nguyễn
Trước khi làm Thư ký tòa soạn tờ L’Avant Garde, một tờ báo thuộc cánh tả, anh đã lần lượt và đồng thời viết cho các báo Mai, La Lutte, Dân Quyền, Việt Nam. Ngay khi bị giam trong khám lớn, anh cũng tìm cách gởi bài ra cho báo Đảng lúc bấy giờ đang hoạt động bán công khai.

Những bài viết của Nguyễn Văn Nguyễn đều thể hiện một phong cách riêng rõ nét. Ngay cả văn chính luận của anh cũng giàu hình ảnh. Văn anh thường phảng phất màu sắc triết lý. Anh hay đưa chuyện cổ, kim, Đông, Tây, những ví dụ dễ hiểu, gần cuộc sống, chuyện ngụ ngôn... làm cho bài văn thêm sinh động và nổi bật câu chuyện mà anh định đưa đến cho độc giả hay cho người nghe đài một cách hấp dẫn, tự nhiên...

Sau đây một trong số hàng trăm bài viết dí dỏm, nhiều tính hài hước và văn học của anh. Tiểu phẩm này được đưa ra dưới dạng hai bài viết, một nói về chuyện một con heo nặng ký, một viết về một quan phủ “mẫu phụ chi dân” nào đó, làm như bị các thợ sắp chữ sắp lộn đoạn nọ sang thành đoạn kia thành ra một bài “đầu Ngô, mình Sở” như sau:

“Một cái tin chấn động dư luận nhân dân ở quận Bình Sùng: Quan phủ yêu quý là ông Vĩnh Thọ sắp lìa quận mình đi nơi khác xa xăm. Nó bị bán ở Mỹ Tho. Chủ nó là bà Lê Thị Năm có vui lòng cho chúng tôi biết rằng, bà rất thương yêu nó, vì bà nuôi nó từ nhỏ cho đến lớn. Thông minh, học rộng, khôn ngoan, sáng sủa, ông Vĩnh Thọ đi đến đâu cũng như Phật đem nước Cam Lồ rưới khắp dân chúng những sự thi ân, bố đức. Quyền cao, lộc cả, quan phủ chẳng vì đó mà kiêu căng, rất dễ nuôi, chỉ có chuối cây xắt nhỏ, trộn với cám mì và cho vào đó chút nước. Nó cũng thích tắm bùn. Đôi khi nó trầm mình trong những vũng trâu, phơi nắng cả ngày ngoài đồng. Ngài vốn xuất thân nơi nhà trâm anh thế phiệt và sự giáo dục của gia đình. Đây là một con heo phi thường, nặng tới 310 kí lô.

Giống heo cỏ, đít lớn đầu to, con heo khổng lồ ấy, bà Lê Thị Năm mua ở điền Gò Cát. Những tác phẩm của Ngài thiên hạ vẫn còn truyền tụng. Văn chương Ngài lưu loát, và ngon nhất ở nơi thủ vĩ, không kể bộ đồ lòng, ai ăn cũng thích...

”Tiểu phẩm nói trên đăng ở báo Mai số 12, ra ngày 19 tháng 5 năm 1936, quả là đã làm “chấn động dư luận”. Anh em thợ thuyền Sở Ba Son chuyền tay nhau đọc rúc rích cười, thích thú. Các tiểu công chức cũng như sinh viên, học sinh rất hả dạ khi tên mọt nước sâu dân bị Nguyễn phang cho một chùy chết tươi. Riêng bọn cầm quyền và các “quan chức, hội tề” thì hằn học ra mặt. Nhưng báo Mai do Đào Trinh Nhất chủ trương nên bọn chúng hậm hực chưa làm gì được, và uy tín của Đào Trinh Nhất hồi đó vang dội khắp Đông Dương.

Những bài viết của anh Nguyễn trong giai đoạn 1932-1945 và sau đó từ 1946-1953 được sưu tập trong tập “Tháng Tám trời mạnh thu” của nhiều soạn giả nhưng cũng còn thiếu nhiều bài xã luận anh viết cho Đài Tiếng nói Nam bộ và nhiều tiểu phẩm, tùy bút, truyện ngắn đăng trên các báo kháng chiến đặc biệt trên tờ Cứu quốc Nam bộ.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, anh được Trung ương phân công đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng và bất kể ở chức vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Anh đã bị giam cầm 3 lần trong nhà tù đế quốc: ở khám lớn Sài Gòn 2 năm, ở Côn Đảo 2 lần 8 năm chưa kể những lần bị giam vài ba tháng ở nhà lao Mỹ Tho, Trà Vinh. Ở đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào anh cũng lấy ngòi bút làm vũ khí đấu tranh. Anh viết kịch, viết vè, soạn bài để giảng dạy. Anh không những gây được cảm tình với các tù nhân hình sự, với những anh em Quốc gia và Quốc dân Đảng mà ngay cả những tên chúa ngục khét tiếng tàn bạo cũng phải thán phục mỗi khi anh tranh luận.

Ngày 23-9-1945, Nam bộ kháng chiến, anh được lệnh đi sang Thái Lan rồi về Hà Nội và được điều vào Quảng Ngãi phụ trách Đài Tiếng nói Nam bộ để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến Nam bộ đang trong thời kỳ chiến đấu ác liệt.

Đầu năm 1948, anh về Nam bộ và làm Giám đốc Sở Thông tin Nam bộ, anh phụ trách luôn cả báo Cứu Quốc và Đài Tiếng nói Nam bộ. Anh tiếp tục có nhiều bài viết cho Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến và cho các báo Cứu Quốc, Thống Nhất, Nhân dân miền Nam, Lá Lúa, Kinh nghiệm tuyên truyền, tạp chí Nghiên cứu chủ nghĩa Mác xít và cả một số tờ báo công khai ở Sài Gòn.

Năm 1952, Trung ương điều anh ra Việt Bắc để nhận công tác mới. Anh đi đến Chiến khu V thì bị bệnh và mất tại Bình Định vào ngày 25-3-1952.

Cuộc đời hoạt động của anh với 43 năm đầy gian khổ, hy sinh nhưng đầy ý nghĩa, kiên cường. Công lao của anh đóng góp cho cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên dương bằng một Huân chương Độc lập hạng Nhất vào sổ số 1 ngày 1-5-1957.
 
                                                                                              P.K
                                                                     (Theo Chân dung các nhà báo liệt sĩ
                                                                      của Hội Nhà báo Việt Nam 7- 1996)
 

Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò

Ý kiến của bạn về giao diện trang này?

Rất đẹp

Đẹp

Bình thường

Xấu

Rất xấu


THÔNG TIN CẦN BIẾT

Thống kê

  • Đang truy cập: 17
  • Khách viếng thăm: 15
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 3626
  • Tháng hiện tại: 35711
  • Tổng lượt truy cập: 24265805